
Thời gian gần đây, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế đã tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với các cơ sở cung cấp dịch vụ thẩm mỹ có yếu tố xâm lấn, đặc biệt là các kỹ thuật tiêm filler và botox. Nhiều trường hợp vi phạm đã bị xử phạt và áp dụng hình thức đình chỉ hoạt động, cho thấy xu hướng siết chặt quản lý đối với các dịch vụ này.
1. Hàng loạt cơ sở bị xử phạt vì thực hiện tiêm filler, botox khi chưa đáp ứng điều kiện pháp luật
1.1. Vụ việc tại Hải Phòng: Đình chỉ hoạt động 18 tháng
Theo thông tin từ Báo Hải Phòng, một cơ sở spa tại Hải Phòng bị xử phạt 45 triệu đồng và đình chỉ hoạt động 18 tháng sau khi cơ quan chức năng xác định cơ sở thực hiện các dịch vụ tiêm botox và tiêm cằm mặc dù không được cấp phép hoạt động theo loại hình phù hợp để cung cấp các dịch vụ này.
(Nguồn: Báo Hải Phòng, https://baohaiphong.vn/dinh-chi-hoat-dong-18-thang-co-so-tiem-botox-khong-phep-549955.html)
1.2. Vụ việc tại Cần Thơ: Xử lý cơ sở thực hiện kỹ thuật xâm lấn không đúng quy định
Tại thành phố Cần Thơ, qua công tác kiểm tra, Sở Y tế phối hợp với Công an thành phố đã phát hiện và xử lý nhiều trường hợp cung cấp dịch vụ thẩm mỹ có yếu tố xâm lấn khi không đáp ứng điều kiện pháp luật, trong đó có cơ sở để người trực tiếp thực hiện các kỹ thuật tiêm filler, botox và các thủ thuật xâm lấn khác không có văn bằng, chứng chỉ chuyên môn phù hợp theo quy định.
(Nguồn: Báo Tuổi trẻ, https://tuoitre.vn/can-tho-diem-danh-co-so-lam-rang-tiem-filler-vi-pham-100260814182920785.htm)
Hai vụ việc trên cho thấy trọng tâm quản lý của cơ quan nhà nước không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm filler, botox mà còn ở việc cơ sở có đáp ứng đầy đủ điều kiện pháp lý để thực hiện các kỹ thuật này hay không.
2. Căn cứ xử phạt theo Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP
Đối với hành vi cung cấp dịch vụ filler, botox khi không đáp ứng điều kiện pháp luật, Điều 39 Nghị định số 90/2026/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế quy định cụ thể về hành vi vi phạm và hình thức xử phạt bổ sung.
2.1. Hành vi vi phạm
Tại điểm đ khoản 6 Điều 39, pháp luật quy định xử phạt đối với hành vi:
“Cung cấp các dịch vụ thẩm mỹ theo quy định của pháp luật hoặc có sử dụng sản phẩm có tác dụng dược lý tại cơ sở không được cấp phép theo một trong các hình thức tổ chức là bệnh viện hoặc phòng khám đa khoa hoặc phòng khám chuyên khoa.”
Quy định này áp dụng đối với trường hợp cơ sở cung cấp dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng sản phẩm có tác dụng dược lý khi chưa được tổ chức và cấp phép theo đúng loại hình mà pháp luật yêu cầu.
2.2. Hình thức xử phạt bổ sung
Bên cạnh xử phạt tiền, điểm c khoản 7 Điều 39 quy định:
“Đình chỉ hoạt động của cơ sở trong thời hạn từ 12 tháng đến 24 tháng đối với hành vi quy định tại điểm a và điểm đ khoản 6 Điều này.”
Mức đình chỉ 18 tháng được áp dụng trong vụ việc tại Hải Phòng là một ví dụ thực tế cho thấy cơ quan quản lý có thể áp dụng nghiêm hình thức xử phạt bổ sung đối với hành vi cung cấp dịch vụ thẩm mỹ khi không đáp ứng điều kiện về loại hình tổ chức và giấy phép hoạt động.
3. Những rủi ro pháp lý mà các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cần lưu ý
Các vụ việc bị xử phạt gần đây cho thấy việc cung cấp dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng sản phẩm có tác dụng dược lý khi không đáp ứng điều kiện pháp luật về tổ chức, cấp phép hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn có thể kéo theo nhiều hệ quả pháp lý đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3.1. Bị đình chỉ hoạt động
Đối với hành vi quy định tại điểm đ khoản 6 Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP, cơ sở vi phạm có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là đình chỉ hoạt động từ 12 tháng đến 24 tháng theo điểm c khoản 7 Điều 39.
Đây là chế tài có tác động trực tiếp đến hoạt động của cơ sở, bởi trong thời gian bị đình chỉ, cơ sở không được tiếp tục cung cấp dịch vụ thuộc phạm vi bị xử lý.
3.2. Bị công khai quyết định xử phạt và ảnh hưởng đến hoạt động của cơ sở
Theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, trong một số trường hợp, quyết định xử phạt có thể được cơ quan có thẩm quyền công khai. Việc thông tin vi phạm được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của cơ quan quản lý hoặc được cơ quan báo chí phản ánh có thể ảnh hưởng đến uy tín, thương hiệu và hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.
3.3. Phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Trường hợp việc cung cấp dịch vụ trái quy định gây thiệt hại cho người sử dụng dịch vụ, cơ sở và các chủ thể có liên quan có thể phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự, trên cơ sở xác định lỗi, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với hậu quả phát sinh.
4. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh muốn thực hiện dịch vụ tiêm filler, botox hợp pháp cần thực hiện những thủ tục gì?
Đối với các cơ sở có nhu cầu triển khai dịch vụ tiêm filler, botox, việc đáp ứng đầy đủ điều kiện về loại hình tổ chức, phạm vi hoạt động chuyên môn, nhân sự và cơ sở vật chất là yêu cầu bắt buộc trước khi thực hiện kỹ thuật.
4.1. Xác định loại hình cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được phép thực hiện dịch vụ tiêm filler, botox
Việc thực hiện dịch vụ tiêm filler, botox không phụ thuộc vào tên gọi của cơ sở mà phụ thuộc vào loại hình tổ chức được cấp phép và phạm vi hoạt động chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, dịch vụ tiêm filler, botox chỉ được thực hiện tại bệnh viện, phòng khám đa khoa hoặc phòng khám chuyên khoa khi cơ sở đã được cấp giấy phép hoạt động và được phép triển khai kỹ thuật tương ứng trong phạm vi hoạt động chuyên môn.
Ngược lại, các cơ sở kinh doanh dịch vụ làm đẹp thông thường hoặc các phòng khám không được phê duyệt phạm vi hoạt động chuyên môn phù hợp không được phép thực hiện các kỹ thuật tiêm filler, botox. Việc cung cấp các dịch vụ này khi không đáp ứng điều kiện về loại hình tổ chức và phạm vi hoạt động chuyên môn có thể bị xử phạt theo quy định tại Điều 39 Nghị định 90/2026/NĐ-CP.
4.2. Đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất và nhân sự
Sau khi xác định đúng loại hình tổ chức, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân sự theo quy định của pháp luật.
- Về nhân sự: Cơ sở phải có người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật và người trực tiếp thực hiện kỹ thuật đáp ứng điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, đồng thời thực hiện đúng phạm vi hoạt động chuyên môn được phép.
- Về cơ sở vật chất: Cơ sở phải bảo đảm các điều kiện tương ứng với kỹ thuật đăng ký thực hiện, bao gồm khu vực thực hiện thủ thuật, trang thiết bị chuyên môn, điều kiện kiểm soát nhiễm khuẩn và các yêu cầu chuyên môn khác theo quy định của pháp luật.
Việc không đáp ứng các điều kiện về nhân sự hoặc cơ sở vật chất khi triển khai dịch vụ tiêm filler, botox có thể làm phát sinh rủi ro pháp lý trong quá trình cấp phép, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính.
4.3. Thực hiện thủ tục cấp mới hoặc điều chỉnh giấy phép hoạt động để được triển khai kỹ thuật tiêm filler, botox
Đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có nhu cầu triển khai kỹ thuật tiêm filler, botox, việc thực hiện kỹ thuật phải được ghi nhận trong phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
-
Trường hợp cấp mới: Cơ sở thực hiện thủ tục cấp giấy phép hoạt động cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
-
Trường hợp đã được cấp giấy phép hoạt động: Khi có nhu cầu triển khai thêm kỹ thuật tiêm filler, botox mà chưa được phê duyệt trong phạm vi hoạt động chuyên môn, cơ sở phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép hoạt động để bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn hoặc danh mục kỹ thuật theo quy định của pháp luật.
Cơ sở chỉ được thực hiện các kỹ thuật tương ứng sau khi nội dung điều chỉnh đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
5. Góc nhìn pháp lý: Vì sao các cơ sở này bị xử phạt?
Theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, các dịch vụ thẩm mỹ có sử dụng sản phẩm có tác dụng dược lý, như filler hoặc botox, chỉ được thực hiện tại cơ sở được tổ chức và cấp phép theo đúng loại hình pháp luật quy định, đồng thời phải bảo đảm các điều kiện về người hành nghề, cơ sở vật chất và phạm vi hoạt động chuyên môn.
Do đó, việc sử dụng sản phẩm chính hãng hoặc có người có chuyên môn tham gia thực hiện không phải là căn cứ để hợp pháp hóa hoạt động nếu cơ sở chưa được cấp giấy phép hoạt động phù hợp hoặc thực hiện dịch vụ vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Đây cũng là cơ sở để cơ quan quản lý áp dụng các chế tài xử phạt theo quy định của pháp luật.
NTC LAW – GIẢI PHÁP PHÁP LÝ CHO NGÀY MAI

VI